Khảo sát định lượng sự khúc xạ và phản xạ tia sáng đơn sắc tại mặt phân cách phẳng giữa hai môi trường trong suốt theo định luật Snell n₁·sin(θ₁) = n₂·sin(θ₂...
Trạng thái: Đang mô phỏng tương tác thời gian thực
Quan sát: Chiếu tia sáng dưới góc tới θ₁ = 40° từ môi trường n₁ = 1.50 sang môi trường n₂ = 1.00: Khúc xạ lệch xa pháp tuyến (θ₂ = 74.6° > θ₁, θ_gh = 41.8°).
Khoa học tự nhiên 9 (Chủ đề Khúc xạ ánh sáng, Phản xạ toàn phần & Thấu kính) · Vật lý 11 (Quang hình học & Cáp quang)
Mục tiêu: Khảo sát định lượng định luật khúc xạ ánh sáng Snell n₁·sin(θ₁) = n₂·sin(θ₂), xác định góc giới hạn θ_gh = arcsin(n₂/n₁) và kiểm chứng điều kiện xảy ra hiện tượng phản xạ toàn phần.
Lý thuyết: Khi tia sáng đơn sắc truyền qua mặt phân cách phẳng giữa hai môi trường trong suốt có chiết suất tuyệt đối n₁ = c/v₁ và n₂ = c/v₂, góc tới θ₁ và góc khúc xạ θ₂ (đo so với pháp tuyến) tuân theo định luật Snell: n₁·sin(θ₁) = n₂·sin(θ₂). Nếu n₁ < n₂ thì θ₂ < θ₁ (tia khúc xạ lệch gần pháp tuyến). Nếu n₁ > n₂ thì θ₂ > θ₁ (tia khúc xạ lệch xa pháp tuyến); khi góc tới đạt θ_gh = arcsin(n₂/n₁) thì θ₂ = 90°, và khi θ₁ > θ_gh thì tia khúc xạ triệt tiêu hoàn toàn, xảy ra phản xạ toàn phần.
Giả thuyết: Nếu chiếu tia sáng từ môi trường có chiết suất lớn (như thủy tinh n₁ = 1,50 hoặc nước n₁ = 1,33) ra không khí (n₂ = 1,00) và tăng dần góc tới θ₁ vượt quá góc giới hạn arcsin(n₂/n₁), tia khúc xạ sẽ biến mất và toàn bộ tia sáng phản xạ ngược lại môi trường 1.
Biến độc lập: Góc tới θ₁ (°), chiết suất môi trường tới n₁ và chiết suất môi trường khúc xạ n₂
Biến phụ thuộc: Góc khúc xạ θ₂ (°), góc phản xạ θ'₁ (°), góc giới hạn θ_gh (°) và trạng thái phản xạ toàn phần
Biến kiểm soát: Chùm tia laser đơn sắc hẹp, mặt phân cách phẳng lý tưởng và tốc độ ánh sáng trong chân không c ≈ 3×10⁸ m/s
Dụng cụ: Nguồn phát tia laser đơn sắc gắn trên thước đo độ tròn 360°; Bán trụ trong suốt thay đổi được chiết suất (Không khí 1.00, Nước 1.33, Thủy tinh 1.50, Kim cương 2.42); Màn quan sát đường pháp tuyến, tia tới, tia phản xạ và tia khúc xạ
Hướng dẫn quan sát: Theo dõi góc hợp bởi tia tới, tia phản xạ và tia khúc xạ với đường pháp tuyến thẳng đứng; chú ý vạch báo góc giới hạn θ_gh khi n₁ > n₂.
Giải thích kết quả: Tỉ số sin(θ₁)/sin(θ₂) luôn bằng hằng số n₂/n₁ ở mọi góc tới còn tia khúc xạ. Khi n₁ > n₂ và θ₁ > arcsin(n₂/n₁), phương trình Snell cho sin(θ₂) > 1 nên không tồn tại tia khúc xạ, toàn bộ năng lượng chùm tia phản xạ lại môi trường 1.